Sự đa dạng phức tạp của giáo dục đại học khu vực Đông Nam Á – Tạp chí Giáo dục International Higher Education | Nttworks.vn

Một trang web mới sử dụng WordPress

Philip G. Altbach

Philip G. Altbach là giáo sư nghiên cứu và là giám đốc sáng lập của Trung tâm Quốc tế về Giáo dục Đại học tại Trường Cao đẳng Boston, Hoa Kỳ. E-mail: altbach@bc.edu.

Giáo dục đại học ở Đông Nam Á có điểm gì chung không? Trên thực tế, có nhiều điểm khác biệt hơn là điểm tương đồng trong lĩnh vực này. Điều này có thể được nhìn thấy trong phản ứng của các quốc gia trong khu vực trước những thách thức của giáo dục đại học trong thế kỷ 21, và nghiên cứu này đưa ra một số bài học và mô hình hữu ích.

Các khía cạnh soeh Đa dạng

Đông Nam Á là một khu vực đa dạng về mọi mặt. Các tôn giáo truyền thống bao gồm Hồi giáo (Indonesia, Malaysia, Brunei), Thiên chúa giáo (Philippines), Khổng giáo (Việt Nam), Phật giáo (Thái Lan, Campuchia, Myanmar, Lào) và thống nhất (Singapore) – cùng với nhiều tôn giáo thiểu số khác ở hầu hết các quốc gia. Khu vực này chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa thực dân Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Mỹ và Hà Lan. Thái Lan là một trong số ít các nước đang phát triển từng là thuộc địa. Cũng có một khoảng cách đáng kể về sự thịnh vượng; một số nước thu nhập cao (Brunei và Singapore), một số nước thu nhập trung bình (Malaysia, Thái Lan), một số nước thu nhập gần trung bình (Indonesia, Việt Nam và có thể cả Philippines) và một số nước vẫn đang phát triển (Myanmar, Campuchia, Lào) . ). Do đó, không có gì đáng ngạc nhiên khi sự khác biệt trong thực hành giáo dục đại học trong khu vực là quá lớn – nhiều đến mức có nhiều sự tương phản hơn là sự tương đồng giữa các quốc gia. Điều này có thể hiểu được, vì mỗi quốc gia phải tiếp cận cách tiếp cận riêng của mình đối với sự phát triển của giáo dục đại học để đáp ứng nhu cầu cụ thể của mình.

Thực trạng của giáo dục đại học

Tỷ lệ tiếp cận giáo dục đại học khác nhau đáng kể ở Đông Nam Á, từ khoảng 10% ở Myanmar đến 87% ở Singapore đối với cùng độ tuổi. Không có quốc gia Đông Nam Á nào ngoại trừ Singapore có tỷ lệ nhập học đại học cao như các nước phát triển. Thái Lan (khoảng 50%), Malaysia (37%) và Indonesia (32%) nằm trong số những nước cao nhất. Ở các nước nghèo hơn, chẳng hạn như Myanmar, Campuchia và Lào, tỷ lệ nhập học đại học dưới 20%. Các quốc gia trong khu vực, ngoại trừ Singapore, tiếp tục phải đối mặt với áp lực to lớn – cung cấp giáo dục đại học cho một lượng lớn sinh viên.

Không có gì ngạc nhiên khi có rất ít trường đại học nghiên cứu được công nhận trên toàn cầu trong khu vực. Một ngoại lệ đáng chú ý đối với khu vực là Singapore có hai trong số 100 trường đại học hàng đầu, cả hai đều không nằm ở vị trí hàng đầu và Bảng xếp hạng Đại học Thế giới chỉ có 15 trong số 800 trường đại học hàng đầu. Lần xin chàoGiáo dục đại học. Ngoài Singapore, Malaysia, Indonesia và Thái Lan cũng góp mặt trong bảng xếp hạng này. Mặc dù các bảng xếp hạng này không phải là một thước đo hoàn hảo, nhưng chúng cho thấy vị trí của các trường đại học nghiên cứu trên khắp thế giới. Sự khan hiếm các trường đại học nghiên cứu là một thiếu sót lớn nếu các quốc gia trong khu vực muốn đi đầu trong nền khoa học toàn cầu, thu hút sinh viên và nhà nghiên cứu từ nước ngoài, và nói chung là đóng vai trò then chốt trong nền kinh tế dựa trên tri thức toàn cầu.

READ  Lý giải MSC là gì? Cùng khám phá điều thú vị qua từ viết tắt MSC | Nttworks.vn

Một lần nữa, ngoại trừ Singapore và ở một mức độ nào đó, Malaysia, đầu tư vào giáo dục đại học ở Đông Nam Á chỉ chiếm một tỷ trọng khiêm tốn trong chi tiêu chung của chính phủ, thấp hơn nhiều so với mức hỗ trợ từ các quốc gia khác. Chỉ có Singapore và Malaysia có mức đầu tư công tương đối cao cho giáo dục đại học, các nước khác như Indonesia và Việt Nam đầu tư vào giáo dục đại học chưa đến 1% GDP. Đầu tư thấp gây hậu quả nghiêm trọng. Như đã đề cập ở trên, có rất ít trường đại học nghiên cứu ở Đông Nam Á. Điều đó cũng có nghĩa là năng lực của chính phủ trong việc đáp ứng nhu cầu đại chúng về giáo dục đại học còn hạn chế và khu vực tư nhân tiếp nhận và đáp ứng một phần lớn nhu cầu này.

Tỷ lệ tiếp cận giáo dục đại học khác nhau đáng kể ở Đông Nam Á, từ khoảng 10% ở Myanmar đến 87% ở Singapore đối với cùng độ tuổi.

Khu vực kinh tế tư nhân đã trở thành một bộ phận quan trọng trong cơ cấu trường đại học ở nhiều nước Đông Nam Á. Singapore, Lào, Việt Nam, Myanmar, Brunei và Malaysia là những ngoại lệ rõ ràng đối với tình hình chung này, mặc dù tất cả đều có các tổ chức tư nhân đang hoạt động và phát triển. Ở Thái Lan, Indonesia và Campuchia, sinh viên các trường tư thục chiếm hơn một nửa tổng số sinh viên đại học. Tại Philippines, hơn 80% sinh viên học tại các trường đại học tư thục. Ngay cả một nước Việt Nam có tư tưởng xã hội chủ nghĩa cũng có kế hoạch đưa 40% sinh viên vào khu vực giáo dục đại học tư thục vào năm 2020, mặc dù rất khó biết làm thế nào để đạt được điều này, nếu không muốn nói là chất lượng thấp hơn. Nhìn chung, các cơ sở tư nhân đang “có nhu cầu” khi các quốc gia chuyển sang giáo dục đại học hàng loạt, với sinh viên từ các gia đình có trình độ học vấn thấp hơn và thường có trình độ thấp hơn. Hầu hết các trường tư thục đều kiếm được lợi nhuận và rất ít trường đào tạo bài bản. Thái Lan, Philippines và Indonesia có một số trường đại học tư thục danh tiếng, thường liên kết với các cơ sở Cơ đốc giáo. Nhìn chung, rất ít thông tin được biết về khu vực giáo dục đại học tư thục lớn và tương đối quan trọng này ở Đông Nam Á.

Chỉ một số quốc gia Đông Nam Á có hệ thống học thuật bài bản và nhất quán mang lại nhiều cơ hội học tập. Rất ít quốc gia ở Đông Nam Á hoặc các nước khác có thể tích hợp khu vực giáo dục đại học tư nhân để đóng góp tương xứng vào lợi ích công. Hơn nữa, ngay cả trong giáo dục đại học công lập, rất ít hệ thống có khả năng đảm bảo sự phối hợp đồng bộ giữa các ngành khác nhau, cho phép các trường đại học nghiên cứu, cơ sở đào tạo, cơ sở giáo dục, cơ sở dạy nghề và các tổ chức khác hợp tác và đầu tư đúng mức vào chúng. Singapore lại là một ngoại lệ cho xu hướng này. Quốc gia này gần đây đã bổ nhiệm một bộ trưởng về giáo dục đại học và kỹ năng.

READ  Điểm chuẩn trường ĐH Công nghiệp Thực phẩm TPHCM 2020 | Nttworks.vn

Các vấn đề và tranh chấp

Có mô hình Đông Nam Á để phát triển giáo dục đại học không? Với sự đa dạng được mô tả ở trên, câu trả lời là không. Tuy nhiên, các vấn đề chung liên quan đến bối cảnh khu vực và các khía cạnh hữu ích của hợp tác có thể được thảo luận và khám phá trong một số mạng lưới giáo dục đại học, bao gồm Tổ chức các Bộ trưởng Giáo dục Đông Á (SEAMEO); Kết nối Các Tổ chức Giáo dục Đại học Đông Nam Á (ASAIHL), bao gồm các cơ sở từ khắp Châu Á; và Hiệp hội ASEAN + 3. Tuy nhiên, rất ít sáng kiến ​​bền vững được đưa ra ở cấp khu vực; Mong muốn nắm quyền kiểm soát giáo dục đại học ở mỗi quốc gia có xu hướng vượt quá mong đợi của khu vực.

Với một số trường hợp ngoại lệ, và mặc dù có sự tồn tại của ASEAN và một số tổ chức khu vực khác, nhưng có rất ít thông tin hoặc phân tích chính xác đáng ngạc nhiên về giáo dục đại học trong khu vực. Dữ liệu chính xác, cập nhật và phân tích kỹ lưỡng các vấn đề là điều kiện tiên quyết để hoạch định chính sách hiệu quả. Nếu không có thông tin tốt về các quốc gia và khu vực riêng lẻ, thì không thể so sánh và ước tính. Không quốc gia nào ở Đông Nam Á có trung tâm nghiên cứu giáo dục đại học đẳng cấp thế giới và có rất ít chuyên gia giáo dục đại học, dù là trong chính phủ hay trường đại học. Ngoại lệ là Viện Giáo dục Đại học Quốc gia Malaysia (Malaysia IPPTN). Tạo ra một cộng đồng nghiên cứu và hoạch định chính sách trong giáo dục đại học là một nhu cầu cấp thiết.

Ngôn ngữ của giáo dục đại học tiếp tục là một vấn đề nan giải ở Đông Nam Á và phần lớn thế giới. Vai trò của tiếng Anh như là ngôn ngữ chính của khoa học và nghiên cứu trên thế giới thực sự là một bài toán nan giải. Nhìn chung, các nước Đông Nam Á sử dụng tiếng mẹ đẻ trong giáo dục đại học. Hai trường hợp ngoại lệ chính là Singapore và Philippines, cả hai đều nói tiếng Anh. Myanmar cũng sử dụng tiếng Anh – mặc dù vẫn còn tranh cãi về ngôn ngữ nào là phù hợp. Là một quốc gia đa quốc gia, Singapore coi tiếng Anh là một lựa chọn hợp lý ngay sau khi giành được độc lập vào năm 1965. Quyết định này đã giúp họ xây dựng hệ thống giáo dục đại học thành công nhất khu vực ở Đông Nam Á và là quốc gia duy nhất có uy tín quốc tế cao. . Malaysia đã quyết định từ bỏ tiếng Anh để chuyển sang sử dụng tiếng Anh Bahasa Malaysia, một quyết định đã cản trở cục diện quốc tế của đất nước và làm nảy sinh các vấn đề khác. Trong những năm 2000, Malaysia đã quay trở lại một mức độ nào đó với tiếng Anh, nhưng giờ đây dường như đang chuyển đổi trở lại, mặc dù các trường tư vẫn tiếp tục dạy bằng tiếng Anh. Sau khi độc lập, Indonesia từ bỏ việc sử dụng tiếng Hà Lan Tiếng bahasa indonesia, Mặc dù tiếng Anh vẫn được sử dụng trong nước ngày nay.

READ  Franchises là gì? Phân loại và vai trò của nhượng quyền kinh doanh | Nttworks.vn

Các vấn đề ngôn ngữ được giải quyết ở đây không chỉ vì tầm quan trọng của bản thân ngôn ngữ, mà còn vì ngôn ngữ tượng trưng cho sự phức tạp của chính sách khu vực. Ngôn ngữ là một vấn đề chính trị gây tranh cãi ở một số quốc gia. Một mặt, ngôn ngữ địa phương là kho lưu trữ văn hóa và lịch sử địa phương. Mặt khác, tiếng Anh giúp định hình quá trình quốc tế hóa và khu vực hóa, tạo cơ hội thu hút nhân tài và đăng ký quốc tế, tạo mối liên kết với khoa học toàn cầu, mang lại triển vọng quốc tế cho sinh viên bản địa và các vấn đề khác.

Rất ít quốc gia Đông Nam Á đặt mục tiêu lên hàng đầu về giáo dục đại học trong tương lai gần. Hầu hết các quốc gia tiếp tục quan tâm đến việc đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng đối với làn sóng di cư ồ ạt và do đó ít quan tâm đến nền kinh tế dựa trên tri thức toàn cầu – ngoại trừ Singapore và ở một mức độ nào đó, Malaysia. Không quốc gia nào ở Đông Nam Á ủng hộ ‘sáng kiến ​​xuất sắc’, như đã từng xảy ra ở Đức, Nhật Bản, Trung Quốc, Nga và những nước khác – những cách để xây dựng các trường đại học nghiên cứu một cách nhanh chóng. Nghiên cứu tiên tiến – mặc dù hầu hết các quốc gia trong khu vực đều cung cấp các nguồn lực bổ sung, mặc dù khiêm tốn. các trường đại học tốt nhất của họ. Malaysia, và đặc biệt là Singapore, đang đầu tư nguồn lực đáng kể vào các trường đại học nghiên cứu.

Đông Nam Á cũng bị ảnh hưởng rõ ràng bởi các xu hướng quốc tế. Tuy nhiên, chỉ một số quốc gia có tầm nhìn quốc tế hoặc chính sách quốc tế hóa. Ví dụ, Malaysia cho phép một số trường đại học của Úc thành lập chi nhánh tại đây và thành lập một trường đại học địa phương – Đại học Hồi giáo Quốc tế Malaysia – để tiếp nhận sinh viên quốc tế. Và Singapore đang tích cực theo đuổi chính sách quốc tế hóa thông qua Sáng kiến ​​Trường học Toàn cầu, bao gồm việc thu hút cả sinh viên quốc tế và các tổ chức học thuật nước ngoài. Tuy nhiên, nhìn chung không có tầm nhìn quốc tế trong khu vực.

Để kết luận

Các dân tộc đa dạng ở Đông Nam Á là rất ít, nhưng những thách thức thực sự mà họ phải đối mặt trong giáo dục đại học là rất giống nhau. Thay vì nhìn tổng thể khu vực, có lẽ tốt hơn nên xem xét các quốc gia như những nhóm có những thách thức tương tự. Bước đầu tiên là phát triển dữ liệu và phân tích hiệu quả, sau đó kiểm tra các chiến lược phát triển phù hợp. Mặc dù các vấn đề mang tính quốc gia, nhưng các giải pháp có thể mang tính khu vực và câu trả lời có thể được gợi ý dựa trên kinh nghiệm của các quốc gia và tổ chức trong khu vực.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Protected with IP Blacklist CloudIP Blacklist Cloud